Quan lạn tập 2

Tập một là năm ngoái, tập 2 là năm nay. Làm phát ảnh và đặt phát gạch 😀 Bình luận (2) Gordon — 2011-06-30 06:33 Năm ngoái chỉ có 1 mình & đồng bọn, năm nay đã có 2 mình & đồng bọn ;)) ỉn — 2011-06-30 11:45 Không phải đâu anh T ah, năm nay có nhiều mình và đồng bọn cơ @khổ chủ: đặt gạch rồi lại ko làm gì tiếp như hôm sinh nhật à 😛 ...

June 29, 2011 · kanishi

KÝ ỨC THÁNG TƯ

Đang đọc Đảo chìm của TRẦN ĐĂNG KHOA, tối qua đọc bài này, cảm động quá. Chiến tranh, không ai muốn chút nào, chỉ những kẻ cơ hội, “đánh Mỹ tới người VN cuối cùng” là thích thú. I Tôi còn nhớ cái ngày gặp Bùi Quang Thận, người đã cắm lá cờ trận mạc lên đỉnh nóc dinh Độc Lập buổi trưa 30 – 4 – 1975. Lá cờ nửa đỏ nửa xanh, nhuốm đầy bụi đường và khói đạn đã hoá đôi cánh chim bồ câu, báo hiệu hoà bình và đấy chính là điểm kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Tôi muốn hỏi Bùi Quang Thận về chuyện cắm cờ ấy của anh. Còn anh thì lại bùi ngùi kể về một người đã khuất. Đó là Ngô Văn Nhỡ. Qua Bùi Quang Thận, tôi biết Ngô Văn Nhỡ là đại uý, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 xe tăng, lữ đoàn 203, binh đoàn Hương Giang. Bảy giờ sáng ngày 30 – 4, tiểu đoàn 1 do Ngô Văn Nhỡ chỉ huy tiến vào cầu Sài Gòn. Đây là một chiếc cầu quan trọng, dài 986 mét nằm trên xa lộ Sài Gòn – Biên Hoà, là trục chính trong một mũi tiến công của ta. Bởi thế, địch chốt chặn rất quyết liệt. Chúng huy động đến 14 xe tăng, xe thiết giáp và hai đại đội bộ binh dàn ra giữ cầu. Chưa kể máy bay giội bom, tàu chiến từ dưới sông bắn lên yểm trợ. Ba xe tăng địch án ngữ ngay trên mặt cầu. Một số xe khác chôn chìm xuống đất chỉ ngóc nòng pháo lên phía cầu. Chúng biến những chiếc tăng đó thành lô-cốt chìm, lô-cốt nổi, lô-cốt di động và quyết cố thủ đến cùng, quyết chặn đứng các mũi tiến công của ta bằng mọi giá. Chiếc cầu quá dài, lại hình vòm. Bởi thế, chiến sĩ ta rất khó quan sát địch, nhất là những chiếc xe tăng địch ở phía mặt cầu sườn bên kia. Còn địch thì rất dễ dàng phát hiện ra ta. Ba chiếc tăng của ta đi đầu, bị bắn cháy. Lửa bốc dữ dội. Mùi thép cháy khét lẹt. Trận đánh diễn ra rất khốc liệt. Chẳng biết địch ở đâu mà hầu như chiếc tăng nào của ta nhô lên cũng bị chúng bắn cháy. Tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ bật cửa xe, nhô hẳn người lên trong làn mưa đạn mù mịt để quan sát địch và chỉ huy đơn vị vượt cầu. “Hãy nhằm thẳng Sài Gòn! Tiến lên!” – Đó là tiếng hô khản đặc của anh trong làn khói đạn khét lẹt. Đó cũng là tiếng nói cuối cùng của anh vang lên trong cõi đời này. Cả tiểu đoàn ào ạt vượt cầu, vừa tiến, vừa tiêu diệt địch, theo khẩu lệnh của người chỉ huy đứng sừng sững trên tháp pháo xe tăng. Sau đó thì tắt liên lạc. Nhưng các chiến sĩ vẫn thấy Ngô Văn Nhỡ đứng nhô hẳn nửa người trên tháp pháo. Anh vẫn đang chỉ huy tiểu đoàn hành tiến. Chỉ huy bằng hiệu lệnh. Ai ngờ Ngô Văn Nhỡ đã hy sinh ngay ở trên cầu. Một viên đạn AR15 đã bắn giữa trán anh. Nhưng các chiến sĩ xe tăng, kể cả những người lính bên anh, ở ngay trong chiếc xe anh chỉ huy, cũng không biết anh đã hy sinh, đã chết đứng trên tháp pháo. Họ vẫn tiến theo khẩu lệnh của anh, theo bóng dáng của anh, hạ hết mục tiêu này đến mục tiêu khác. Ngô Văn Nhỡ đã đi vào cửa ngõ Sài Gòn, ngay trong ngày toàn thắng như thế. Anh không biết vào chính giây phút lịch sử ấy, người vợ hiền thảo suốt đời gắn bó với anh, thủy chung với anh, ngay cả khi anh không còn trên cõi đời này đang chuyển dạ đẻ ở một xóm nhỏ vùng Kinh Bắc. Và đứa con trai, giọt máu cuối cùng của anh, chút kỉ niệm duy nhất của anh với chị ở vùng đất lửa Cửa Việt đã chào đời. Đó là sự hiện diện của anh trong ngày đoàn tụ. Và Ngô Văn Việt, cậu con trai của người tiểu đoàn trưởng ra đời trong ngày bố hy sinh ấy, đến nay đã hai mươi tuổi. Năm Việt tròn 18, người mẹ trẻ của cậu, chị Loan, vợ liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ đã đưa con trai về trung đoàn 203, là đơn vị cũ của anh: “Tôi còn mỗi giọt máu này, cũng là giọt máu của anh Nhỡ đây, tôi trao nó cho các anh. Các anh cho cháu được tiếp bước bố cháu, được làm lính xe tăng như bố nó ngày xưa…” Theo câu chuyện của Bùi Quang Thận, tôi lần về trung đoàn 203. – Anh muốn gặp cháu Việt à? Nguyễn Văn Thông, trung đoàn trưởng trung đoàn 203, tiền thân của lữ đoàn 203 bắt tay tôi niềm nở: – Nó là hạ sĩ rồi. Tối, tôi sẽ bảo cháu lên đây gặp anh. Thằng bé đẹp trai lắm. Đẹp như bố, cũng giống bố cái trán bò liếm. Cậu ta là con cưng của trung đoàn đấy. Ai cũng thương nó. Anh Bùi Tùng vừa thư cho tôi. Anh Tùng chắc anh biết chứ. Anh ấy là chính ủy cũ của lữ đoàn, người cùng anh Phạm Văn Thệ bắt tổng thống Dương Văn Minh. Bây giờ, anh ấy về hưu, vào ở tít mãi trong Sài Gòn. Nói rồi, Nguyễn Văn Thông trao cho tôi bức thư của chính ủy Bùi Tùng. “Thông ơi, cho mình thăm tất cả anh em, những người đang bảo vệ thành quả cách mạng. Thông cố gắng giúp đỡ cháu Việt nhé. Mình thương cháu lắm mà chẳng biết làm sao được, bây giờ, tuổi già, sức yếu, vả lại về hưu rồi chẳng còn điều kiện gì để giúp cháu nữa, mọi sự trông chờ ở Thông. Thông hãy thương cháu. Tội nghiệp, cháu mồ côi cha từ lúc lọt lòng. Thương anh Nhỡ, chúng ta chỉ còn biết tạo điều kiện để nuôi dạy cháu trưởng thành…” – Anh Tùng liên tục thư cho tôi. Thư nào cũng nhắc chuyện cháu Việt. Chuyện cháu dài lắm. Các nhà văn có thể viết tiểu thuyết được đấy. Có khi còn dựng được cả phim nữa. Tôi cũng có biết chút ít mà. – Chắc anh ở cùng đơn vị anh Nhỡ? – Vâng, anh Nhỡ là tiểu đoàn trưởng. Còn tôi lúc đó là trung đội phó trung đội trinh sát. Công việc chính của tôi là theo dõi tình hình địch, báo cáo cấp trên để cấp trên nắm được và tìm cách xử lý. Trong đời tôi, có lẽ tôi chưa bao giờ được chứng kiến một mối tình mạnh mẽ và đẹp đến thế mà kết quả của mối tình ấy là sự ra đời của cháu Việt, một người lính của tôi bây giờ. – Anh có thể tiết lộ được điều gì chăng? – Tất nhiên, tôi biết không được chi tiết lắm. Bởi nhiệm vụ của tôi là trinh sát, nhưng là trinh sát địch, chứ không phải trinh sát ta. Chuyện anh Nhỡ yêu chị Loan ở quê thế nào, tôi không rõ. Nhưng hôm chị Loan lặn lội vào tận Cửa Việt tìm chồng thì tôi biết. Tôi là người gặp chị trước tiên. Chị hỏi thăm tôi. Lúc đó, chị trẻ lắm, lại đẹp nữa. Mặt tròn, da trắng nõn. Tôi còn nhớ chị mặc quần lụa đen, áo xanh Sĩ Lâm, một tay cắp nón, khoác trước ngực, một tay xách cái túi vải, chân đi dép cao-su, kiểu dép đúc bộ đội. Trông chị, tôi đoán ngay chị là người thôn quê. Sau hỏi, thấy đúng. Chị ở xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hoà, Hà Bắc. Người nhà quê yêu bao giờ cũng thấm đượm, sâu sắc và dữ dội. Cũng phải yêu mãnh liệt đến thế nào mới dám lặn lội vào tận chiến trường. Cửa Việt, Quảng Trị lúc bấy giờ là một mặt trận nóng bỏng. Địch chốt bốn xung quanh. Lớ ngớ lại đi nhầm vào chỗ địch, tìm địch hỏi thăm đường thì chỉ có toi mạng. Bởi thế khi tôi báo cho ông Nhỡ là có vợ vào thăm, ông ấy không tin. Làm sao có thể tin được. Ông ấy cho tôi bịa, tôi lỡm ông ấy, nên quyết không ra đón. Chị Loan phải lọ mọ vào tận hầm ông Nhỡ. Lúc đó, ông ấy mới ngớ ra. Đúng là vợ thật. Thật trăm phần trăm, và vợ mới cưới. Thế là chúng tôi tíu tít chuẩn bị căn buồng hạnh phúc cho hai người. Gọi buồng hạnh phúc, là gọi cho sang, thực tình, đó là căn hầm tăng, anh em sơ tán, nhường cho anh chị ở tạm. Lúc bấy giờ, ở chiến trường làm sao có chiêu đãi sở. Nhưng không thể vin cớ chiến trường để có thể ăn ở lộn xộn hay tạm bợ. Chúng tôi trang trí căn hầm bằng những tấm vải dù, những tờ giấy báo, rồi bí mật cử nhau canh gác cẩn thận, cắm lá lên nóc hầm. Ấy là ký hiệu bí mật quân sự. Có cha còn viết nguệch ngoạc lên cái vỏ đạn dựng ở cửa hầm: Khu quân sự tối mật. Cấm vào. Chúng tôi muốn tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ của chúng tôi và người vợ trẻ xinh đẹp có được những giây phút thực sự êm đềm, thanh thản, trước khi bước vào trận chiến đấu khốc liệt nhất. II Ngô Văn Việt, người chiến sĩ xe tăng, ra đời vào mùa xuân năm 1975 ấy, tuổi ra đời của anh là tuổi của chiến dịch thần tốc lịch sử, và ngày tháng năm sinh của anh, cũng là ngày tháng năm mất của bố anh, một tiểu đoàn trưởng, một người lính xe tăng anh hùng, mặc dù anh không có trong danh sách anh hùng. Người lính trẻ ấy, bây giờ đang ngồi bẽn lẽn trước tôi. Tôi lặng lẽ ngắm anh, cố tìm ở anh, một chút bóng dáng, đường nét nào đó của người tiểu đoàn trưởng dũng cảm đã khuất. Anh trẻ hơn so với sự tưởng tượng của tôi, cũng đẹp trai hơn là tôi nghĩ. Nói đẹp trai, có lẽ không phải. Đúng ra là xinh trai. Mái tóc đen nhánh, bồng bềnh như sóng lượn. Da trắng nõn. Cặp môi ướt đỏ, gọn như một nét vẽ. Hai má chín ửng như thoa phấn. Trông anh có dáng dấp của một thiếu nữ đang ở tuổi dậy thì. Anh thỏ thẻ trả lời chúng tôi, tay cấu cấu mép bàn. Rồi lại ngỏn nghẻn cười. Và rồi thay cho việc trả lời những câu hỏi lẩn mẩn của “bác” nhà báo, anh mời “các bác” về quê, thăm mẹ anh, và bà nội anh, người có ba con trai là liệt sĩ, vừa được Nhà nước trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. III Con ngựa sắt dã chiến lại lọc cọc đưa chúng tôi qua những con đường đất đỏ, gập ghềnh ổ trâu ổ bò về xã Đức Thắng, Hiệp Hoà, Hà Bắc. Cùng đi với chúng tôi, ngoài nhà văn Ngô Vĩnh Bình, có hạ sĩ Ngô Văn Việt và thiếu tá Nguyễn Mạnh Hồng, chủ nhiệm chính trị trung đoàn. Đến xã Đức Thắng, chúng tôi tạt vào bệnh xá tìm chị Loan. Quả như lời trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Thông, chị Loan vẫn còn trẻ và đẹp, mặc dù năm nay, chị đã xấp xỉ lên lão. Ở nhà quê, một người phụ nữ năm mươi tuổi đã có thể xem như một bà lão. Thế mà “bà lão” Loan vẫn chẳng có dáng vẻ bà lão chút nào. Năm anh Nhỡ hy sinh, chị mới ở tuổi 28, và rồi chị cứ ở vậy, không đi bước nữa. Tuổi xuân chỉ có một lần, và đời người cũng chỉ có một lần. Trời đã bắt chị phải chịu sự thiệt thòi, sao trời còn cay nghiệt ban cho chị quá nhiều nhan sắc. Để bù lại nỗi mất mát đó chăng? Với nhan sắc ấy, chị có thể làm hành trang cho một chuyến đi mới. Có bao nhiêu con đường bọc lụa trải ra trước mặt chị, chờ chị đặt chân lên? Tại sao chị vẫn đứng vậy làm nàng Vọng Phu? Trên đất nước này có bao nhiêu nàng Vọng Phu như thế? Chỉ riêng trong căn nhà của mẹ Sửu – mẹ chồng chị – đã có đến hai nàng Vọng Phu rồi. Nhưng ánh mắt ướt át kia, làn da trắng mịn như ngà kia, đâu phải đã hoá đá. – Thực tình, có rất nhiều người muốn đến với tôi, trong đó có cả những người từng là đồng đội cũ của anh Nhỡ. Họ thương tôi lắm. Có người vì anh Nhỡ mà thương tôi, thương cháu. Họ xin tôi cho phép họ được thay anh Nhỡ chăm sóc cháu và chăm sóc tôi. Nhưng tôi rất thương mẹ, thương cháu, và thương cả anh Nhỡ nữa. Không ai có thể thay thế anh ấy được, dù họ tốt vô cùng và thương tôi hết lòng hết dạ. Nhưng mỗi khi nghĩ đến một người đàn ông khác, không phải anh Nhỡ, là tôi lại thấy se thắt cả ruột gan. Tôi đi bước nữa ư? Mẹ tôi chắc là đồng ý ngay. Bà cụ cũng nhiều lần bóng gió, ý muốn mở cửa cho tôi đi. Nhưng chính vì bà cụ sẵn sàng để cho tôi đi mà tôi lại không thể đi được. Vì nếu đi thì khổ mẹ tôi quá. Bà cụ đã mất con, lại mất cả dâu. Con tôi cũng thế. Cháu đã mồ côi bố, giờ lại thiếu cả mẹ, dù mẹ vẫn còn trên thế gian này. Nghĩ thế, tôi không thể đi được. Làm người khổ lắm, chú ạ. Chị dâu tôi cũng thế đấy. Chị ấy là vợ bác Đồng, anh ruột anh Nhỡ. Bác Đồng hy sinh khi là trung tá, là chính ủy trung đoàn. Lúc đó, chị ấy cũng còn trẻ lắm, mới có mỗi cô con gái bé bỏng. Thế rồi, chị ấy cũng lại ở vậy cho đến tận bây giờ, khi đã thành một bà lão rồi. Chỉ có chú Hảo, em ruột anh Nhỡ hy sinh năm 22 tuổi, mới là binh nhất, chưa kịp lấy vợ. Nếu chú ấy cưới vợ, thì có lẽ nhà tôi lại có thêm một người đàn bà goá bụa ở vậy nữa… – Chắc chị yêu anh Nhỡ từ hồi học phổ thông? – Không, hồi học phổ thông, anh Nhỡ chẳng biết tôi đâu. Anh ấy hơn tôi đến hơn chục tuổi. Dạo anh ấy đi bộ đội, tôi còn bé lắm, vẫn đang đi học mà. Rồi tôi tham gia thanh niên xã. Hồi bấy giờ chiến tranh, gian khổ, nguy hiểm và đói nữa, nhưng vui lắm. Tối nào cũng tụ tập, sinh hoạt, hát hò, rồi phong trào Ba sẵn sàng, Ba đảm đang. Rồi cứu thương, cứu sập, lấp hố bom, tải đạn ra trận địa pháo. Rồi xung phong vào Trường Sơn. Ngày nào cũng nườm nượp, rầm rập người. Trên đường cái lớn dằng dặc những đoàn quân ra trận. Trông anh nào cũng trẻ. Họ vừa đi vừa hát những bài ca hùng tráng. Rồi buông lời bông đùa với các cô gái đi xe đạp trên đường, hoặc đang cấy hay đang làm cỏ dưới ruộng. “Chờ anh nhé, anh sẽ trở về”. “Em ơi, nhớ chờ anh nhé”. Không biết trong số các chàng trai ấy, có ai còn trở về không? Có lần, chúng tôi tụ họp ngay tại sân nhà anh Nhỡ. Mấy đứa con gái cứ cấu chí nhau, tranh nhau làm dâu mẹ Sửu: “U ơi, chúng con xếp hàng cả một dãy đây này, u ưng ai thì u chấm đi!”, “U ưu tiên con nhé, con thành phần cơ bản!”. “Không, con cơ bản hơn. Con gia đình liệt sĩ.” “U ơi, sắp tới, anh Nhỡ về phép, u cưới con cho anh ấy nhé!”. Đấy, cứ chí choé thế. Đứa nào cũng mồm năm miệng mười. Nhưng chẳng đứa nào biết mặt anh Nhỡ. Đùa quá rồi hoá thật. Anh Nhỡ về phép, thình lình tìm đến nhà tôi. Tôi nhìn anh ấy, ngỡ ngàng. Thoạt đầu tôi lại tưởng anh bộ đội nào đến xin tre. Tôi bảo luôn, để anh ấy khỏi ngượng khi hỏi xin: “Tre nhà em mấy búi kia kìa. Anh thích cây nào thì cứ ra đó mà chặt. Tre xã hội chủ nghĩa đấy”. Anh ấy cười bẽn lẽn: “Không, anh không đến xin tre. Anh tên là Nhỡ, con ông Lẫm bà Sửu, em bác Đồng. Anh về phép một tuần, u anh bảo anh đến thăm em, và gia đình em…” Đấy, anh ấy chỉ nói được có thế, rồi mặt đỏ lựng lên. Hai tay cứ thay nhau vần cái mũ cối như vần một quả bóng. Rồi anh ấy lại đi. Mấy tuần sau, tôi nhận được thư. Mãi đến giữa năm 1973, anh ấy mới lại về phép. Chúng tôi cưới nhau trong đợt phép ngắn ngủi ấy. Năm đó, bà cụ tôi lại xây nhà. Công việc rất bề bộn. Nhà chưa xong móng thì anh ấy lại đi. Rồi từ đó, anh ấy không trở về nữa… – Chị vào thăm anh ấy hồi nào? – Hồi giữa năm 1974. Bố chồng tôi khuyên tôi đi thăm anh ấy. Ông cụ lạ lắm, rất ít nói, nhưng thương con hết mực. Khi được tin con hi sinh, ông cụ thường ngồi như hoá đá. Gương mặt dường như chẳng thay đổi gì. Tôi còn nhớ cái hồi nhà tôi đang làm giỗ bác Đồng, thì xã lại mang giấy báo tử chú Hảo đến. Họ không biết nhà đang có giỗ. Mẹ tôi nhột cả người, chỉ còn thiếu ngã vật ra. Còn bố tôi thì vẫn bình thản. Ông cụ điềm nhiên pha trà. Bàn tay hơi run. Nhưng gương mặt thì vẫn tỉnh như không. Rồi ông cụ chỉ hỏi: “Nó bị ở đâu? Viên đạn giết nó từ hướng nào? Trước mặt hay sau lưng?” Tôi không hiểu sao ông cụ chỉ quan tâm đến điều đó. Mấy người con của ông già, kể cả anh Nhỡ, đều ngã xuống vì những viên đạn bắn thẳng từ phía trước mặt. Khi con hy sinh, ông cụ vẫn bình tĩnh như thế, như là chẳng có chuyện gì cả. Rồi đợi đến khuya, khi cả nhà đã ngủ hết, ông cụ mới chui vào giường, trùm chăn khóc một mình. Tôi vào thăm anh Nhỡ cũng là do ông cụ đấy. Cụ bảo: “Bố già rồi, lại tàn tật, nên không đi thăm nó được…” (Ông cụ bị ngã xe từ năm bảy hai. Nhà tôi rất nghèo, quanh năm đói, không có tiền thuốc thang chạy chữa nên rồi thành tật. Ông cụ đi lại tập tễnh, rất vất vả, về cuối đời thì nằm liệt giường, nằm liệt cho đến khi chết). “Con vào với nó đi. – Ông cụ khuyên tôi. – Sắp tới, chắc lại đánh nhau to đấy. Chuyến này, không khéo nó không còn trở về được nữa đâu. Nó là con trai bố, bố biết. Con chịu khó, tranh thủ vào với nó một tí”. Thấy tôi ngần ngừ, ông cụ bảo: “Mày không có tiền phải không? Nhà mình còn mỗi con trâu là có giá đấy. Thôi, để bố bán đi, cho mày lấy tiền, mày vào với nó.” – Đắn đo một lát, ông cụ bảo “Bố không xui con nói dối đâu, nhưng trong trường hợp này lại không thể nói thật được. Nếu gặp được nó, con cứ bảo là nhà mình vẫn còn đủ ăn. Bố cũng đã được bệnh viện chữa cho khỏi chân rồi, chữa không mất tiền. Rồi con nhớ kể cho nó nghe về cái nhà ngói này, cứ nói là đàng hoàng, trong nhà không thiếu gì. Có nói quá lên một tí cũng không sao cả”. Thế rồi tôi khăn gói ra đi… Người đàn bà dừng lại. Hai vai tròn trịa khẽ run rẩy như có một luồng gió lạnh thổi qua. Tôi không dám nhìn vào gương mặt chị. Tôi quay ra ngắm căn phòng, là nơi làm việc, cũng là nơi ở chính của chị. Căn phòng tuềnh toàng, không trang trí gì. Một chiếc tủ lớn chắn ngang, vừa đựng thuốc, vừa làm tấm bình phong che chiếc giường đơn với tấm chiếu hoa côi cút. Ngoài kia, một chiếc bể trơ đáy, đầy lá nhãn rụng. Bệnh xá vắng hoe. – Từ ngày anh Nhỡ hy sinh, sao chị không ở nhà, lại ra ở hẳn trạm xá. Ở đây tiếng thế mà vắng vẻ, nói dại, nếu không may chị bị cảm hay ốm đau gì, nhất là đêm hôm khuya khoắt… Tôi hỏi cho có chuyện để xua đi cái không khí nặng nề trùm khắp căn phòng. – Tôi không thể ở nhà được, chú ạ. Ở nhà anh Nhỡ, cái gì cũng gợi cho cho tôi nhớ đến anh ấy. Dù cái nhà được dựng sau này, nhưng vẫn dựng trên nền đất cũ. Các cô chú và anh em trong nhà rất thương tôi, làm cho tôi một căn hộ riêng. Nhưng ở một mình sợ lắm. Cái nhà cứ trống tuềnh trống toàng. Thiếu có một người mà hoá ra thiếu tất cả. Từ ngày cháu Việt vào lính, tôi dọn ra ở hẳn đây luôn. Ở đây, dẫu sao vẫn có người, đỡ lạnh, cũng khuây khoả được chút nào đấy, chú ạ… Nói rồi, chị Loan đứng dậy, khép cửa, dặn dò cô y tá trực mấy câu gì đó, rồi tất tả dẫn tôi về nhà. Nhà anh Nhỡ ở sâu trong làng. Đó là căn nhà ngói ba gian xây dựng từ năm 1973. Mái ngói hình vẩy rồng, đã đen xỉn vì mưa nắng. Căn nhà có vẻ u tịch, lành lạnh và thâm nghiêm như một khu nhà thờ. Bây giờ chỉ còn mẹ Sửu, 73 tuổi ở đó với người con trai út. Mẹ dành ra cả một gian riêng để thờ ba người con đã chết ngoài mặt trận. Một bàn thờ với ba bát hương và tấm hình ba người con trai được ghép lại. Đứng đầu là Ngô Văn Đồng, trung tá chính ủy trung đoàn, hy sinh năm 1973, rồi đến Ngô Văn Hảo, binh nhất, hy sinh năm 1968, cuối cùng là Ngô Văn Nhỡ, đại uý, tiểu đoàn trưởng xe tăng, hy sinh ngày 30 – 4 – 1975 trước cửa ngõ Sài Gòn. Chị Loan để chúng tôi nói chuyện với bà mẹ, rồi con cón đi quét sân, thu dọn cửa nhà. Trông chị có cái dáng xăm xắn, dịu dàng của một nàng dâu hiếu thảo. Hơn hai mươi năm nay, chị đã quen làm dâu như thế. Một nàng dâu không chồng… – Tôi thương thằng Nhỡ lắm. – Giọng mẹ Sửu trầm lắng. – Nhà tôi nghèo. Con cái chẳng đứa nào học được hết phổ thông. Thằng Nhỡ cũng chỉ hết lớp Bảy, rồi vào bộ đội. Trước đó, nó cũng đã đi làm để kiếm tiền nuôi em. Khi vào bộ đội, được lương 5 đồng một tháng, nó cũng chắt chiu gửi về đỡ đần tôi. Hồi nó về phép cưới vợ, tôi lại đang làm cái nhà ngói này, trước đây toàn ở nhà gianh, chưa mưa đã dột, chưa gió đã lạnh. Hôm nó về, nhà dỡ mất rồi, đêm ấy trời lại mưa rét, nó nằm ở ngoài vườn. Bây giờ, nó cũng đã về được đây rồi, nhà cũng khang trang hơn, nhưng nó vẫn phải nằm ở ngoài vườn, không thể vào nhà được. Khổ thân con tôi. Cái số nó không được ở nhà ngói. Nhà bây giờ rộng thế này, ấm thế này mà nó vẫn phải nằm mãi với sương gió ở phía ngoài vườn kia… Bà mẹ lấy khăn chấm nước mắt, rồi lặng lẽ chỉ qua khung cửa sổ mở rộng. Ngoài đó là khu vườn mênh mông. Sau mấy vạt dứa, mấy cây bạch đàn liễu đứng thẫn thờ trong làn mưa bụi mỏng như sương khói là Nghĩa trang liệt sĩ của gia đình. Ở đó có bốn ngôi mộ vừa được xây xong vào dịp giáp Tết. Cả ba người con trai dũng cảm của gia đình đều được đưa về nằm ở đó. Bên cạnh mộ ba người con trai là mộ một người lính già, người lính Cách mạng, dù chưa bao giờ khoác áo lính. Đó là ông già Ngô Văn Lẫm, người vừa mất cách đây mấy năm. – Mẹ biết tin anh Nhỡ hy sinh khi nào? – Tôi biết ngay từ hôm nó mất. Hôm ấy là ngày 30- 4. Đài báo tin Sài Gòn giải phóng. Cả làng vui như Tết. Buổi chiều lại có mưa rào. Nước tràn cả mặt đập. Thằng cháu tôi úp được rất nhiều cá, tối đã định ăn mừng. Nhưng tôi bảo cứ úp trong thùng, chờ thằng Nhất về cho đủ người nhà đã rồi mới ăn. Thằng Nhất hôm đó đi đâu mãi mạn Hải Phòng. Thế rồi tối ấy, tôi nằm mơ. Tôi thấy thằng Nhỡ về, mặt nó đầy máu. Nó về cùng với hai anh bộ đội nữa. Tôi giữ ở lại ăn cơm, tôi bảo nhà có cá em nó úp được. Nhưng không ai chịu ăn. Các anh ấy đòi đi ngay. Thằng Nhỡ chẳng nói gì. Tôi bảo thằng Nhỡ làm sao thế? Sao nó chẳng nói gì cả? Các anh ấy bảo: Anh Nhỡ bị thương vào đầu, lại bị sức ép, sinh ra mất trí, nên không nói được. Thằng Nhỡ cứ đứng nhìn tôi đăm đăm. Rôi nó khóc. Nước mắt có máu. Thế là tôi bừng tỉnh. Lúc ấy, con mẹ Loan đang ở cữ thằng Việt. Bà thông gia của tôi, mẹ cái Loan cũng đang ở đây trông nom cháu. Tôi không nói gì với cái Loan, nhưng bảo bà cụ: “Không khéo thằng Nhỡ chết rồi, bà ạ. Tôi thấy nó bị bắn vào đầu. Chắc là nó chết rồi”. Thế rồi hôm sau, thằng Nhất về, mặt nó tái dại đi. Tôi hỏi: Con ốm à? Nó không nói. Tối, nó ra sau bếp khóc rấm rứt. Tôi gặng mãi nó mới nói. Nó bảo anh Nhỡ chết rồi. Báo nói rồi. Đi Hải Phòng, nó mua được tờ báo Nhân Dân. Tờ báo in ngày 1- 5. Trông chỗ nào cũng có chữ đỏ. Báo có in một bài báo của bác nhà báo nói về trận đánh của thằng Nhỡ trên cầu Sài Gòn, báo nói thẳng ra là thằng Nhỡ đã chết ngay trên nóc xe tăng. Trong bài báo có cả lời bác Lê Trọng Tấn nói về thằng Nhỡ. Nhưng không viết hẳn ra là Nhỡ mà chỉ viết tắt là Ngô Văn N, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 xe tăng. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 thì đúng là tiểu đoàn thằng Nhỡ rồi. Thằng Nhất nó bảo thế. Rồi mấy ngày sau, tôi nhận được thư bác Tùng. Rồi bác Tùng thân sinh về đây. Bác ấy cho tôi cái đài, cho con mẹ Loan mười hai hộp sữa. Sao có người đâu mà tình nghĩa đến thế… – Thế lâu nay, mẹ có gặp bác Tùng không? – Không, nghe đâu bác ấy vào ở mãi trong Sài Gòn. Xa lắm. Còn các anh đơn vị thằng Nhỡ thì về luôn luôn. Năm nào các anh ấy cũng về, có khi các anh ấy về thăm tôi lại còn chăm hơn cả thằng Việt bây giờ. Cái thằng giống bố như đúc. Gan thằn lằn cóc tía. Mà sao mày cứ ngồi ngẩn ra như cái thằng dại gái thế, hả Việt? Dậy thắp cho bố nén hương đi, con. Thắp cho cả bác Đồng với chú Hảo nữa… ...

June 21, 2011 · kanishi

Ngày sn

Đặt gạch tỉ năm rồi giờ đành cố viết, keke Đại loại là một ngày không hoa, ít quà và cực nhiều lời chúc. Rất vui. Ngay tối hôm trước, em Nhím còi gọi điện, chắc phải gần 1 năm rồi em ấy mới liên lạc với mình, hehe. Đại loại hỏi han lung tung xèng, và kết luận là hôm nay điện thoai nó báo sắp sn anh, nên em gọi trước chúc một phát, còn vụ cafe hò hẹn lâu lẩu lầu lâu thì vẫn cứ đầu lâu :)) 20/6 là thứ hai, một ngày đi làm, và không có lịch gì cả, sau khi Dung ỉn book lịch, thì 12h đêm mình mới chợt nhớ ra, là có vụ nghiệm thu con Hoa hồng Haiti, hichic, và mình thì phải ở lại hỗ trợ tới 10h tối, quá buồn. Trên facebook thì lời chúc ùn ùn :”> thích thú dã man :”> hie hie, tăng dần dần 30, 50, 80, 100 rồi cuối ngày là khoảng 180 😡 :*, hi hihi. Cám ơn các bạn đã bỏ thời gian gõ một dòng nhỏ nhỏ chúc mừng tớ! Hôm ấy Dung cũng làm muộn, xong ra chỗ mình, xong đúng lúc bạn Lyn gọi điện bảo tới 123 Trung Kính rồi, đây là quán cơm cơ mà (có khi còn nghĩ mình làm ở quán cơm), Dung thấy có người gọi điện, xong mình bảo mình xuống ngay, thế là đùng đùng tức giận đi về ko nói một lời. Ôi quá nguy hiểm :)) Món quà của Lyn là món quà duy nhất trong ngày sinh nhật, he he, một chiếc áo đỏ mà mình phải mang đổi, ah chính xác là bạn ấy tặng áo hồng và mình mang đổi thành áo đỏ 😀 Có điều thú vị là không một ai trong số (các) bạn mình coi là “người yêu” cũ CMSN mình, có lẽ các bạn ấy không nhớ, cũng có khi các bạn ấy nhớ nhưng không thèm có hành động gì, dù chỉ là 1 comment, keke, tất cả là do ăn ở, hè hè. ...

June 21, 2011 · kanishi

linkhay và 404

nghĩ cũng bực, tự nhiên bị 404, kiểu mình là một phần tử nguy hiểm của xã hội, cần phải cách ly :-j đầu tiên cũng điên lắm, cáu phết, chửi thầm là bọn khốn nạn, anh có tên có tuổi đàng hoàng, anh chịu trách nhiệm với những link anh gửi, những lời anh nói, bla bla, cơ mà dù sao thì, linkhay là của các bạn ấy làm ra, các bạn ấy muốn cho ai chơi thì cho, kill ai thì kill, không cần có lý gì hết, thế nên mình cũng ko cần cáu làm gì mệt xác, và dù sao thì cũng thông cảm, các bạn ấy phải làm vịêc với tuyên giáo, an ninh…, mình thì chưa có anh cớm nào tới hỏi thăm cả : )) ờ thì ra rìa, anh deck cần, càng có thời gian làm những việc khác, ngắm gái xinh chẳng hạn ;;) ...

June 8, 2011 · kanishi

The big pictures – phiên bản Tm :”>

Nhà A2 Tập thể Vĩnh Hồ với mạng nhện dây điện, loa phường và internet Nhà B5 Vĩnh Hồ – khu tập thể có vài chục năm tuổi, và tòa nhà hai mặt tiền mới hoàn thiện ở đường Tây Sơn – Thái Thịnh Phượng vĩ rơi ngập sân chơi của nhà A3 Hai đôi bạn già ngồi ngắm nhau, làm mình nhớ bài hát “HN những năm 2000, cụ già ngồi trong công viên, ngắm bà già nhớ thủa thanh niên”, đã từ lâu lắm, ko ai còn hát “HN những năm 2000” Cô bán chong chóng và bóng bay này là người Hà Nam, chong chóng của cô rất cũ, 12k một chiếc, cô nói bán nốt số hàng này để còn về quê. Rất nhiều người dân ở nông thôn rời bỏ quê nhà, lên HN thuê trọ và làm các nghề như bán hàng rong, bán nước vỉa hè để kiếm sống. ...

June 5, 2011 · kanishi

5/6/2011 – kỉ niệm 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

1911, 21 tuổi, người thanh niên ấy lên con tàu xin làm phụ bếp để sang Pháp, anh nghĩ gì khi lên tàu ra đi – không ai biết được – trừ chính anh. Tại sao anh đi? Vì anh có một ham muốn, một ham muốn tột bậc, nước nhà được độc lập, nhân dân ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Ước mơ ấy, bất kì một trí thức (tự nhận) nào cũng có – nhưng chỉ mình anh làm được. Nguyễn Tất Thành – NTT, và Nguyễn Tiến Trung – NTT. Nguyễn Tiến Trung – thạc sĩ, hay tiến sĩ CNTT tại Pháp, yêu nước theo cách “khác” – vào tù. Anh ta có gì nguy hại cho ĐCSVN? Lật đổ chế độ bằng những bài viết trên blog 360? Hão huyền. Nhưng ĐCSVN rất mạnh mẽ. Ra tay. Trương Công Định – tiến sĩ luật học, cũng tại Pháp (Pháp quả đúng là một cái nôi đào tạo những người ham muốn “tự do, bình đẳng, bác ái”), và bạn Định cũng vào tù. Bạn ấy nổi tiếng, tài giỏi, vợ đẹp, giàu có. Vậy tại sao bạn không ngồi im hưởng thụ đi mà còn thích đi tù? Sướng quá không chịu được? Deck biết được, cơ mà bạn đã đi tù. Những người dũng cảm nói chung là đã đi tù. Tố Hữu bảo “đường cách mạng…/là gươm kề cổ, súng kề tai” quả không sai. Ngày xưa mình cũng máu me tranh đấu lắm, nhưng giờ mình khác rồi, tuổi trẻ nông nổi, giờ chưa vợ con, mà cũng thấy giảm nhiệt rồi, tới lúc vợ con vào, trách nhiệm đè lên vai, thôi em xin làm kẻ hèn. Liệu có thật thế không? Chỉ mình mới biết 😉 Đôi khi cũng nghĩ, vừa nghèo vừa ngu vừa xấu tính xuẩn ngốc, bựa vd, dân vina thì dân chủ dell gì, lo mà kiếm ăn đi, lắm sẹo. Cơ mà, rồi lại không đành lòng. Nghĩa trang Trường Sơn kia, hàng vạn ngôi mộ có tên và vô danh kia, họ ngã xuống vì cái gì? Chẳng phải em Mừng, em trèo lên những ngọn cây bút bút cao nhất, để hái lá thuốc chữa ho cho mẹ, em vào vệ quốc đoàn, có phải vì lý tưởng cộng sản cao đẹp? Em vào vệ quốc đoàn, em xả thân chiến đấu, vì anh đội trưởng hứa rằng, khi nước nhà độc lập, mẹ em sẽ được nhà nước chữa bệnh miễn phí, chữa khỏi bệnh ho không tốn đồng nào. Mừng đã tin, tin không chút đắn đo. Còn mình, mình đắn đo 🙂 ...

June 2, 2011 · kanishi

Có ai cho ta lời từ tạ

Có ai cho ta lời từ tạ Giữa phố đông người nhộn nhịp qua Hỏi ai dừng lại nhìn đôi lúc Một tấm lòng thành giờ phôi pha Ta như con tàu giữa sân ga Cứ đến rồi đi không còn lạ Vậy mà buồn thay cho số kiếp Có những con người chẳng thể xa Ta gửi cho em những lời ca Em dành cho ta lời xa lạ Giận đời nhiều khi không có lý Yêu mất, giận còn thật thê tha Ừ thì nỗi buồn nào cũng qua Ừ thì nỗi vui sẽ thật thà Bận lòng làm chi nhân thế ấy Say đắm làm gì rồi cũng xa… ...

May 27, 2011 · kanishi

Sai lầm

Anh đã mắc sai lầm, rất to lớn. Sai lầm thứ nhất của anh là anh đã khiến nàng yêu anh. Sai lầm thứ hai, to lớn hơn, nghiêm trọng hơn, đó là đã để cho nàng bỏ anh. Túm lại, sai lầm chính là anh. Bình luận (2) Gordon — 2011-05-26 16:52 clgt? 😐 ỉn — 2011-05-27 12:22 “Sai lầm thứ hai, to lớn hơn, nghiêm trọng hơn, đó là đã để cho nàng bỏ anh.” Câu này phải sửa thành: “Để sửa chữa sai lầm thứ nhất, anh đã làm cho nàng bỏ anh” 🙂 ...

May 26, 2011 · kanishi

Ném đá

http://www.tinhte.vn/phuong-tien-van-chuyen-327/infographic-kham-pha-sieu-xe-cua-tong-thong-my-704594/ http://www.tinhte.vn/tin-tuc-su-kien-10/cac-thanh-pho-chuc-world-cup-2014-tai-brazil-se-co-mang-4g-703396/ Mình thề là mình không muốn ném đá cơ mà đọc bọn nó viết – cái bọn reply các bài thứ 2, thứ 3…, thấy ngứa hết cả, bình luận vô nghĩa vd, vô thưởng vô phạt, chả có tí giá trị nào, tốn đường truyền, tốn tài nguyên. Đúng là bọn rảnh rỗi vô công rồi nghề. Bình luận (1) Gordon — 2011-05-25 12:29 = )) Thái Mèo mấy bữa nay lại bị dở hơi rồi. Chuyện văn hóa diễn đàn thì nói làm gì cho mệt : )) ...

May 25, 2011 · kanishi

Mưa và yêu

Mình và Dung ỉn đi chơi rất hay bị gặp trời mưa, đi về lạnh run lạnh run 🙁 Hôm nay offline clb nhiếp ảnh cũng thế, mưa gió ầm ầm, lại còn đang bị ho và nhức đầu. Mình về tới ngã tư Láng Hạ – Lê Văn Lương là khoảng gần 11h (đêm), đường đông, ùn tắc theo hướng Cầu Giấy về Ngã Tư Sở, khoảng 3 lần đèn xanh thì mới tới lượt đi qua ngã tư, và bất ngờ chưa – giữa trời mưa, đêm khuya như thế, vẫn có 2 đồng chí CSGT, khoác áo mưa đứng phân luồng giao thông, tự nhiên thấy yêu các d/c quá, em yêu CSGT 😡 đấy, công chức nhà nước chỉ cần 60% nhiệt tình, tận tâm, tận lực vì dân vì nước như thế, có phải là đại bộ phận dân chúng sẽ hoàn toàn tin yêu đi theo Đảng chẳng một chút lăn tăn không. Mình thề là mình sẽ như thế, hé hé, nhưng tiếc là … Ah hôm nay bầu cử, cũng muốn nói vài câu. Mỗi khi bầu cử, thì vấn đề quan tâm nhất của mỗi người đi bầu, hẳn sẽ là lá phiếu của mình có ý nghĩa gì không. Do vậy, cần phải đặt câu hỏi: Ai sẽ kiểm phiếu? Ai giám sát những người kiểm phiếu? Ai giám sát những người giám sát kiểm phiếu? Và kết luận là lá phiếu của mình không có ý nghĩa chi hết. Không mong thế tí nào nhưng đáng buồn là nhiều khả năng bầu cử ở VN hiện vẫn rơi vào thế “không mong”. ...

May 22, 2011 · kanishi

“Cái lý” có chân của Bộ Tài chính

Bác TranDuPhong viết (hoặc copy) note rất sắc, copy thêm bài nữa. Văn phòng Bộ Tài chính vừa lên tiếng phản bác thông tin nói rằng lãnh đạo bộ này muốn xài xe công đắt tiền hơn khi xây dựng văn bản cho phép một số chức danh được sử dụng xe đưa đón với giá tối đa 1,1 tỉ đồng thay vì 800 triệu đồng. Dù xác nhận là có dự kiến cho phép bộ trưởng và một số chức danh có hệ số lương từ 9,7 trở lên được sử dụng xe công (đưa đón đi làm) với giá tối đa 1,1 tỉ đồng thay vì mức 800 triệu đồng, Bộ Tài chính vẫn nói rằng những thông tin được báo chí nêu ra “thiếu chính xác và không đầy đủ”. Một quan chức Bộ Tài chính lý giải mức giá trang bị xe công cho một số chức danh được đề xuất nâng lên so với quy định cũ không đồng nghĩa với việc nâng chuẩn xe công, mà là bù đắp trượt giá. Thời gian qua, cùng với tỉ giá biến động, các phụ tùng, linh kiện tăng cao nên giá xe cũng thay đổi. Thực tế ý kiến của bộ là xác đáng vì lạm phát mà hiện tượng giá xe leo cao là có thật. Song những người làm công ăn lương đang đóng thuế thu nhập cá nhân (TNCN) thì lại ngạc nhiên vô cùng trước sự nhanh nhảu bù trượt giá này của Bộ Tài chính. Bởi tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XII (hôm 22-3), đáp lại ý kiến của một số đại biểu, chính Bộ trưởng Vũ Văn Ninh khẳng định chưa thể đề xuất sửa đổi mức khởi điểm chịu thuế và chiết trừ gia cảnh trong Luật Thuế TNCN (mà chỉ nghiên cứu, tổng kết việc thi hành luật). Đến đầu tháng 5, khi CPI tăng quá cao (sát mốc 10%), bộ này mới đề xuất phương án miễn thuế TNCN cho một số đối tượng (nhưng số thuế được miễn tối đa cũng chỉ… 50.000 đồng/tháng/người nộp thuế, tương đương 1,5 tô phở!). Ai cũng biết việc lạm phát tăng cao có nguyên nhân rất lớn từ chính sách tài khóa, mà Bộ Tài chính phải chịu trách nhiệm chính. Ngay cả việc điều chỉnh dồn dập giá các mặt hàng thiết yếu vừa qua, nhiều chuyên gia đánh giá rằng đã tạo nên tình thế “té nước theo mưa” lập nên mặt bằng giá mới, mà trong đó trách nhiệm quản lý giá của bộ không hề nhỏ. Thế nhưng khi cần một thái độ cụ thể chia sẻ với gánh nặng lạm phát của người dân bằng việc sửa những con số quá lạc hậu trong Luật Thuế TNCN thì bộ lại… chần chừ, thậm chí vô cảm. Trong khi đó lại thấy bộ sốt sắng “bù đắp trượt giá” cho tiêu chuẩn xe công cho lãnh đạo. Đúng là “cái lý” có chân! (Bút Lông) ...

May 19, 2011 · kanishi

Đằng sau việc “tự xử”

bài của tranduphong via@linkhay, hay nên mình copy. Gần đây liên tiếp xảy ra các vụ việc tự xử tàn khốc nhằm giải quyết tranh chấp giữa công dân với nhau. Các vụ tự xử này hầu hết đều có yếu tố bạo lực, mà mới nhất là các vụ bắn nhau trên đường Xã Đàn (Hà Nội) gây nên cái chết cho một cô gái; vụ một chủ doanh nghiệp ở Bình Dương bị bắn chết trước cửa nhà vì nợ nần; vụ tra tấn như thời trung cổ tại một mỏ thiếc ở Nghệ An… Đáng nói là nguyên nhân gây mâu thuẫn chỉ là những lý do lãng xẹt, như vay tiền chậm trả, nghi ngờ người lao động “ém” sản phẩm… song những người trong cuộc thay vì chọn lựa cách thức giải quyết bằng pháp luật thì lại manh động, tự mình ra tay sử dụng vũ lực. Và dĩ nhiên, phương pháp sai thì rất hiếm khi cho ra kết quả đúng nên tất cả mâu thuẫn nho nhỏ trước đó đều không được giải tỏa và hậu quả còn tàn khốc hơn: người chết, kẻ vào tù, doanh nghiệp đình đốn… Trong cuộc sống đang vận động hằng ngày mâu thuẫn giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với tổ chức… luôn luôn tiềm ẩn. Xã hội càng phát triển mâu thuẫn càng phức tạp và những lợi ích liên quan, những người liên quan càng nhiều. Chính vì thế trách nhiệm của các cơ quan bảo vệ pháp luật không chỉ là giải quyết các mâu thuẫn đó một cách nghiêm minh bằng các trình tự luật định sẵn có, mà còn phải tổng kết, phân tích, dự báo những tình huống và tranh chấp có thể phát sinh trong tương lai để có đối sách phù hợp. Trong toàn bộ quá trình ấy, tác phong chuẩn mực, yếu tố đạo đức của người thừa hành công vụ là tác nhân chủ chốt tạo nên thứ gọi là niềm tin công lý của người dân vào pháp luật. Dĩ nhiên, để có những nhận xét chính xác về mối liên hệ giữa các vụ tự xử của công dân và niềm tin công lý cần phải có những khảo sát quy mô và cách thức thực chứng xác đáng. Song một khi các vụ tự xử diễn ra ngày một nhiều thì không thể không đặt ra câu hỏi vì sao công dân không chọn các cơ quan pháp luật để giải quyết tranh chấp phát sinh? ...

May 19, 2011 · kanishi

lặt vặt

lâu không viết gì, tự nhiên cảm thấy khả năng diễn đạt, văn vẻ của mình thụt lùi đi nhiều quá. hôm nay nghỉ làm đi chơi – thế mới kinh, đại loại là tháp tùng bà Dung béo nhà mình đi vài nơi, bà ấy đang thất tình mà đồng bọn của bà ấy toàn ở Anh, Nhật, Úc, mình làm hình nhân thế mạng cố gắng vài hôm vậy. Chiều 4h về, tự nhiên buồn ngủ – vì không có mạng, đọc truỵên thì chán, nên lăn ra ngủ tới hơn 8h, báo hại giờ 4h đêm rồi chưa ngủ :)) Đang đọc Ốc sên chạy, truyện chán òm, gái lụy tình, mệt người. Mình ghét truyện Tàu khựa, vì cái kiểu tên nhân vật dàiiiiiiiiii, Hứa Chi Hằng, … nọ kia nọ kia, ít cũng 2 chữ, đọc mệt người. Nhưng dù sao lỡ đọc rồi nên phải cố đọc hết. Lúc tối đang nấu mì tôm thì hết ga, may mà lúc ấy hai quả trứng chín rồi, nó mà hết đúng lúc đập trứng vào thì còn bách nhục. Hết ga nhưng vì trứng chín nên vẫn nhét mì vào rồi ăn bình thường. Hehe. ...

May 14, 2011 · kanishi

Huế – cố đô thơ mộng

sau bao nhiêu mong chờ thì cũng tới ngày đi chơi, chuyến đi xa nhất và lâu nhất từ bé tới giờ :”> chiều 29/4, hồi hộp, háo hức, hăm hở. 5h chiều lên taxi, đi ra 50 Yên Phụ, chỉ sợ muộn, 6h xe chạy mất, ai dè ra tới nơi là 6h kém, ngồi đợi chán chê ăn uống thoải mái, 7h xem mới chạy. Mà còn ko chạy ngay, rề rề ra cây xăng bơm xăng, và khách ở cây xăng lên xe, mấy bà chị mua vé chợ, nằm la liệt ở đầu xe và lối đi 🙁 Xe chạy, trời mưa, nằm trong xe khô ráo nhìn ra ngoài trời mưa gió, mọi người đi xe máy ướt át lạnh lẽo thật là khổ. Tới Ninh Bình thì một đoàn 18 mạng ầm ầm lên xe, 18 người mà gã trưởng đoàn cứ cãi là 17, đếm đi đếm lại, cuối cùng cũng “à 18”, %#$*(*#**$%)%. Nằm trên xe thì chị Ninh uống thuốc ngủ hay sao đó, ngủ im lìm, ko nói ko rằng 1 câu, Thu và em gái Thu thì bịt kín, cũng nằm im lìm ngủ ngoan như mèo, em Thúy thi thoảng vùng dậy – buồn nôn. Nhưng ko trầm trọng lắm. Còn bạn Dung – vì ốm cả tuần trước đó, lại còn nằm ngược, nhìn theo chiều xe chạy, thế là bệnh say xe càng trầm trọng, cái giống nôn vì say xe là rất khổ, ruột co thắt cồn cào, rất mệt. Thôi ko kể chuyện say xe nữa, đại lọai là mệt mỏi vì xe cộ, nhưng tới Huế các bạn vẫn có sức lượn rất kinh, chỉ có điều là về sút mất vài kg, gầy và đen sì sì. Cảm giác rất đặc biệt, khi đúng vào 30/4 – ngày lịch sử của dân tộc, được đi qua những địa danh lịch sử: đèo Ngang, sông Gianh, cầu Hiền Lương, ngắm con sông Bên Hải – vĩ tuyến 17 chia cắt đất nước 30 năm. Ngắm dãy Trường Sơn, nhìn gió cát trắng, hứng gió Lào của miền Trung nắng cháy. Vào Huế, được nhìn thấy dòng sông Hương – với cầu Tràng Tiền và cầu Phú Xuân, sông Hương xanh mát đôi bờ, là nơi hẹn hò lý tửơng của những đôi bạn trẻ, hehe. Đi taxi từ điểm đỗ của open bus về khách sạn, đi theo đường Lê Lợi, một bên là sông Hương, thích dã man, nhìn thấy Quốc học Huế uy nghi cổ kính, thật là hâm mộ bội phần, nhưng có điều không hiểu, tại sao trường Đồng Khánh lại đổi tên thành trường Hai Bà Trưng? Hôm đầu tiên ở Huế, ăn món thịt luộc chấm tôm chua, bữa cuối cùng cũng ăn món đó, nói chung là ngon, dễ ăn trong mùa hè rực nắng. 4 hôm ở Huế là 4 hôm nắng như điên luôn, chỉ có mấy hạt mưa của tối đầu tiên, còn lại là nắng lửa. Hôm 30/4 10h mới xuống ô tô, về khách sạn, nghỉ ngơi ăn uống, bia Huda Huế nhạt ơi là nhạt, uống hơi chán. Nhưng mà cũng phê, ngủ rất sướng, 3h ko muốn dậy, nhưng lịch là phải vào thăm thành Nội trong chiều 30 nên phải cố, hehe. Đông, khá là đông khách du lịch, thành nội Huế nói chung là đổ nát, đang được trùng tu tôn tạo, nhưng cơ bản mà nói thì mình thấy hơi bị thất vọng về thành quách của một kinh đô nước Việt – chỗ trùng tu xây mới thì xấu, chỗ thì cỏ mọc lên tận mái, các điện phía trong chỉ còn nền móng, đúng là “lâu đài bóng tịch dương”, lại còn có cả một sân tennis trong thành nội mới kinh chứ – ngày xưa vua Bảo Đại chơi tennis à? Ah mà trong đại nội, có rất nhiều cung, điện chỉ còn móng, mình tự hỏi không hiểu bọn khỉ nào đã phá hủy? Pháp, Mỹ hay Cộng sản? Dự là sau 1945, khi Pháp trở lại xâm lược – như trong Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán mô tả, để phục vụ việc chống Pháp, rất nhiều công trình xây dựng đã bị phá dỡ, giật đổ. Hay là bị xử lý trong vụ “cách mạng văn hóa” – chắc không phải, Huế trở vào là thuộc VNCH, nên ko ảnh hưởng bới “CMVH”. Tối về đi ăn ở quán cơm Âm phủ, món ăn cũng bình thường – hơi cay, hai đĩa thịt gà rất ngon nhưng cay quá ko ăn nổi, giá thì đắt, cái câu “ăn Âm phủ – ngủ Thiên Đường” nói về du lịch Huế là một câu vớ vẩn, cần phải xóa ngay khỏi bản đồ du lịch, kẻo bọn Âm Thiên này đông khách quá mà sinh ra tinh vi, chả có gì đặc sắc. Sáng hôm sau cả đoàn xuống thuyền, đi dọc sông Hương theo một tour đi 7 điểm du lịch, nhà vườn An Hiên, chùa Thiên Mụ, đền gì gì đó, 3 lăng Minh Mạng, Khải Định, Tự Đức. Đúng là một tour hành xác, giá cả tour là 120k/người, ko bao gồm vé vào cửa các điểm di tích, cơm trưa trên tàu, cơm trưa phải nói là cực kì dở ẹc, chán kinh khủng. Thời gian tại mỗi điểm thì rất hạn hẹp, vì đi theo cả đoàn 90 người mà, nói chung các bạn đi Huế thì đừng nên theo cái tour tiếc này làm gì, đi thăm các Lăng thì tự thuê xe máy mà đi cho lành. Ah có một điểm sáng trong ngày là đi ăn sáng ở 19 Lý Thường Kiệt, bún bò Huế, cũng hơi cay, nhưng mà trà đá rất xịn, một 1k một cốc rất là to và ngon, thơm – kiểu trà sen. Còn có bánh ít (bánh gai ăn 1 miếng) và bánh su xê tráng miệng. 3k một cái bánh. Sau khi thoát khỏi cái tour hành xác, đói, rất đói, phi về quán gì đó ăn bánh bèo, bánh bột lọc, bánh lung tung xèng của Huế, mỗi loại ăn một cái, mình ko hợp ẩm thực Huế, chả thấy ngon gì, ăn lấy được :”> ngại quá :)) Tối thì thuê xe đạp, lượn lờ vào thành nội, rồi ra cafe Vĩ Dạ Xưa ngồi, quán đóng cửa rất sớm, 11h là đuổi khách rồi, nên chỉ ngồi đựơc có 1 tẹo, quán to, hoành tráng, trà ngon nhạc hay. Giá cả cũng dễ chịu. Hôm đó ko về nhà ngay mà còn lượn lờ “phượt đêm” ở thành nội, rất sung sướng, gió mát , đường vắng, sạch sẽ, Huế nhỏ nên sạch và mát hơn HN rất nhiều, vì có sông Hương. Đấy là ban đêm thôi, còn ngày thì nóng cho thôi rồi. Hôm thứ 3 là thuê xe đi Lăng Cô, qua đèo Hải Vân, ngắm biển xanh nắng chói, bờ biển đẹp thôi rồi, đứng trên đỉnh đèo, ngắm Đà Nẵng – thề có ngày sẽ tới Đà Nẵng ăn chơi :D. Biển Lăng Cô sạch và mát lạnh luôn, tắm ở đó xong về nhà bị cháy nắng đỏ hết vai, đen sì nữa 😀 Đi từ Lăng Cô về, định ghé thôn Vĩ Dạ thăm nhà Hàn Mạc Tử – nhưng rất tiếc thôn Vĩ Dạ “lá trúc che ngang mặt chữ điền” giờ toàn thấy nhà cửa san sát, ko có tí ti thôn xóm gì cả, đành thất vọng đi về 😀 Tối thì ra quán cơm ở Nguyễn Huệ ăn tối, nói chung là rẻ, nhưng mà món hến xào làm mãi mới xong, ra tới nơi thì cả nhà ăn xong mất rồi, rất lãng phí 2 đĩa hến xào nhưng ko làm gì đựơc :(( Và bạn Dung sáng hôm sau thì bị đau bụng xanh mặt – nằm nhà cả sáng – tới nỗi mà buổi trưa không dám ăn gì ngoài cơm trắng 😀 Tổng kết lại là thành phố Huế rất nhỏ bé, các tài xế taxi và xích lô rất mến khách, giá cả ở Huế rẻ hơn HN. Nguyên nhân vì sao hệ số thị trường của HN và TPHCM phải là 1.4, huhu. keke. Ở Huế thì nên tranh thủ đi chơi vào buổi sáng sớm và đêm khuya, còn lại thì ở trong nhà tránh nắng 😀 :D. Ah, còn một điều hay ho nữa là ở Huế, khi mình ngồi ăn uống, không bị ăn xin, bán hàng rong tới làm phiền, cũng có bàn hàng rong, nhưng mà họ đứng ngoài chờ mình ăn xong rồi mới mời, mình ko mua họ cũng ko ép nài như ở HN. Thực ra đi chơi, thi thoảng nhìn thấy cảnh nghèo, tự nhiên cứ có một cảm giác thấy mình rất là có lỗi 🙂 ...

May 10, 2011 · kanishi

CV Writing by Tai Tran

CV Writing by Tai Tran [slideshare id=149347&sc=no] View more presentations from Tai Tran

April 25, 2011 · kanishi